Hạ huyết áp

0
83
huyết áp thấp

huyết áp thấp

Huyết áp

Điểm chính của chẩn đoán

Huyết áp thấp và nhịp nhanh.

Giảm tưới máu ngoại vi và hầu hết có co mạch.Thay đổi trạng thái tinh thần.Thiểu niệu hoặc vô niệu.Nhiễm toan chuyển hóa trong nhiều trường hợp.

Nhận định chung

Sốc xuất hiện khi tuần hoàn máu động mạch không đủ cung cấp cho nhu cầu chuyển hóa của mô. Hướng điều trị phải hướng đến cả chống sốc và điều trị nguyên nhân.

Phân loại

Sốc giảm thể tích

Mất máu (sốc chảy máu).

+ Chảy máu ngoài.

++ Chấn thương.

++ Chảy máu đường tiêu hóa.

+ Chảy máu trong.

++ Tụ máu.

++ Tràn máu màng phổi hoặc chảy máu màng ruột.

Mất huyết tương.

+ Bỏng.

+ Viêm da tróc vẩy.

Mất nưóc và điện giải.

+ Ra ngoài.

++ Nôn.

++ Ỉa chảy

++ Toát mồ hôi nhiều.

++ Tình trạng tăng thẩm thấu (đái tháo đường, hôn mê toan xêtôni hôn mê tăng áp lực thẩm thấu không có táng xệtôn).

+ Bên trong (khoang thứ ba).

++ Viêm tụy có cổ trướng.

++ Tắc ruột.

Sốc tim

Rối loạn nhịp.

+ Nhịp nhanh.

+ Nhịp chậm.

“Suy bơm” (thứ phát sau nhồi máu cơ tim hoặc các bệnh cơ tim khác).

Rối loạn chức năng van tim cấp (đặc biệt trong tổn thương hở van tim).

Rách vách liên thất hoặc thành tự do của tâm thất.

Sốc tắc nghẽn

Tràn khí màng phổi tăng áp lực.

Bệnh màng ngoài tim (ép tim, co thắt màng ngoài tim).

Bệnh mạch phổi (nghẽn mạch phổi ồ ạt; tăng áp động mạch phổi).

Khối u ở tim (u nhày nhĩ).

Huyết khối thành nhĩ trái.

Bệnh van tim tắc nghẽn (hẹp van hai lá hoặc hẹp van động mạch chủ).

Sốc phân bố

Sốc nhiễm khuẩn.

Sốc phản vệ.

Sốc thần kinh.

Thuốc giãn mạch.

Sụy thận cấp.

(1) Sốc giảm thể tích

Giảm thể tích trong lòng mạch do mất máu, huyết tương hoặc nước và điện giải có thể rõ ràng (ví dụ chảy máu ngoài) hoặc khó thấy (ví dụ “ẩn trong khoang thứ ba” như trong viêm tụy). Co mạch bù trù tạm thời làm giảm kích thước mạng mạch máu và có thể duy trì tạm thời huyết áp, nhưng nếu dịch không được bù lại, hạ áp sẽ xuất hiện, sức cản ngoại vi tăng lên, mạng mao mạch và tĩnh mạch xẹp, và mô càng bị thiếu oxy hơn nữa. Thậm chí mất đột ngột lượng dịch tuần hoàn vừa phải có thể dẫn tới những tổn thương nặng nề đến các trung tâm sống còn.

(2) Sốc tim

Chức năng tim không thích hợp có thể do rối loạn của cơ tim, van tim, hoặc hệ thống chủ nhịp. Sốc đi kèm với nhồi mẩu cơ tim hoặc các bệnh tim nặng nề khác có tỷ lệ tử vong rất cao (75 – 80%).

(3) Sốc tắc nghẽn

Tắc nghẽn của tuần hoàn phổi hoặc hệ thống, van hai lá và van động mạch chủ, hoặc dòng chảy tĩnh mạch, như trong bệnh màng ngoài tim, có thể giảm hiệu suất tim đủ để gây sốc. Ép tim, tràn khí màng phổi tăng áp lực, nghẽn mạch phổi ồ ạt là những cấp cứu nội khoa đòi hỏi chẩn đoán, và điều trị ngay lập tức. Ép tim phải được siêu âm và chọc hút dịch màng tim tức thì. Tiên lượng bệnh nhân nghẽn mạch phổi ồ ạt là dè dặt bất chấp điều trị chống đông hoặc tiêu huyết khối; phẫu thuật lấy nghẽn mạch chỉ giúp được chút ít. Nguyên nhân ít gặp của sốc tắc nghẽn là u nhày với tăng áp động mạch phổi.

(4) Sốc phân bố

Giảm sức cản mạch hệ thống từ các nguyên nhân khác nhau như nhiễm trùng máu, sốc phản vệ, suy thận cấp, có thể do hiệu suất tim không đủ dù thể tích tuần hoàn bình thường.

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here