Page 2

Nguyên nhân gây ngộ độc

0

Ngộ độc là sự rối loạn hoạt động sinh lý của cơ thể dưới tác động của chất độc. Có nhiều nguyên nhân gây ngộ độc, nhiễm độc, dưới đây là một số nguyên nhân chủ yếu hay gặp

  1. Ngộ độc do nhầm lẫn

  • Dùng nhầm hóa chất, chất tẩy rửa hay các chất khác để dùng uống, ăn, sờ tay vào chất độc mà không biết ( ví dụ như sờ tay vào nấm độc); hít phải các chất độc trong môi trường, dùn nhầm chất tẩy rửa, thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng.
  • Đôi khi ngộ độc do uống nhầm thuốc nhầm liều, hay bị dị ứng với thuốc, mỹ phẩm.
  1. Ngộ độc do nghề nghiệp

  • Trong quá trình làm việc, người lao động hằng ngày phải tiếp xúc với chất độc nếu các phương tiện bảo hộ không đảm bảo có thể bị ngộ độc. Ngộ độc này có tính chất trường diễn và gây ra các bệnh nghề nghiệp do bản thân người lao động phải làm việc liên tục trong khoảng thời gian rất dài, có thể gây bệnh nếu tiếp xúc chất độc.
  • Ví dụ như công nhân ở nhà máy acqui có thể bị nhiễm độc một số kim loại nặng, công nhân các nhà máy hóa chất có thể bị nhiễm một số chất có khả năng gây độc tính cao, giáo viên phải tiếp xúc với bụi phấn có thể có nguy cơ bị bụi phổi, tuy nhiên ngày nay với công nghệ phát triển thì việc tiếp xúc với phấn ít hơn và công nghệ sản xuất phấn không bụi
  • Ngộ độc cũng có thể xảy ra do tai nạn nghề nghiệp như bị bỏng acid trong các nhà máy hóa chất, bị ngạt thở khi làm việc trong hầm mỏ than.
  1. Ngộ độc do ô nhiễm môi trường

    ngộ độc do ô nhiễm nguồn nước
  • Ngày nay cùng với công nghệ phát triển thì đồng nghĩa với đó là sự ô nhiễm môi trường diễn ra ở diện rộng. Ô nhiễm bao gồm: đất, nước, không khí,..trong đó ô nhiễm nguồn nước đang là vấn đề mang tính cấp bách, thời sự. Hâu hết sinh vật trong hệ sinh thái đều cần tới nước. Khi nguồn nước bị ô nhiễm, tất cả hoạt động sinh hoạt đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Dịch bệnh ngày càng phát triển, lan rộng. Con người đang phải đối mặt với mặt trái của sự phát triển kinh tế. Đây được coi là thách thức, vấn đề cấp bách đặt ra cho nước ta và nhiều nước trên thế giới.

 

  1. Ngộ độc do thực phẩm

  • Thức ăn có thể bị nhiễm các độc tố do vi khuẩn, nấm,,,tiết ra. Khi ăn vào vô tình mang theo các độc tố có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe
  • Một số loài thực động vật có chứa các độc tố sẵn như: măng, sắn, cá nóc,..
  • Ăn các thức ăn ôi thiu, nấm mốc, bị phơi nhiễm độc tố hoặc ăn các thực phẩm không được chế biến đúng cách có thể bị ngộ độc.
  1. Tự sát hay bị đầu độc

Nhiều trường hợp nạn nhân quyên sinh bằng cách sử dụng các hóa chất có tính độc hại cho cơ thể. Ví dụ như tự tử bằng cách uống thuốc ngủ barbiturat liều cao; hay uống paracetamol liều cao gấp 8-10 lần liều điều trị thông thường.

Có thể bị đầu độc bằng các chất độc, cho vào nước uống, thức ăn một số chất độc có độc tính mạnh, chỉ cần một liều rất nhỏ cũng có thể gây tử vong cho người. Ví dụ như HCN chỉ cần 1 liều rất nhỏ, có thể gây ra cái chết rất nhanh chóng.

 

Chất độc và độc tính của chất độc

0
  1. Khái niệm chất độc

  • Chất độc là những chất khi đưa vào cơ thể một lượng nhỏ trong điều kiện nhất định sẽ gây hại cho sức khỏe con người từ mức độ nhẹ như đau đầu, buồn nôn,.. đến mức độ nặng như co giật, mê sảng, sốt rất cao và nặng hơn có thể dẫn đến tử vong. Ngộ độc là sự rối loạn hoạt động sinh lý của cơ thể dưới tác động của chất độc.

    chất độc
  • Một chất trở nên độc trước hết phụ thuộc vào liều lượng của nó trong cơ thể. Ví dụ như thuốc có tác dụng chữa bệnh, điều trị bệnh chỉ được dùng với một lượng vừa đủ, không nên dùng nhiều vì bản thân nó là con dao hai lưỡi, có tác dụng điều trị đồng thời tác dụng không mong muốn cũng có. Vì vậy phải cân nhắc liều lượng dùng để có hiệu quả điều trị tốt nhất. Một số ion kim loại như Cu2+ , Zn2+ , .. co những vai trò sinh lý nhất định nhưng nếu những ion này nồng độ của chúng trong các tổ chức vượt ngưỡng sinh lý của chúng thì lại trở nên có hại cho cơ thể.
  • Độc tính của một chất còn phụ thuộc vào tính chất vật lý hóa học của nó như độ hòa tanm độ phân tán. Ví dụ như ion Bari ở dạng hòa tan BaCl2 độc tính cao, trong khi BaSO4 lại không có độc tính trong cơ thể, từ đó có những ứng dụng trong y học.
  • Độc tính phụ thuộc vào cách sử dụng, tình trạng sức khỏe, tuổi tác của các các thể. Một chất trở nên độc hơn các chất khác hoặc có thể trở nên ít độc hơn tùy vào yếu tố trên.

 

  1. Độc tính của chất độc và các yếu tố ảnh hưởng

Độc tính: độc tính là một khái niệm về liều lượng, được dùng để mô tả tính chất của chất độc của một chất nào đó với cơ thể.

  • Liều tối đa không gây độc
  • Liều thấp nhất có thể gây độc
  • Liều gây độc
  • Liều gây chết
  • Liều độc cấp tính LD50

Trong đó LD50 là thông số hay được sử dụng nhiều nhất. Là liều gây chết trung bình 50%động vật thí nghiệm. LD50 có thể được xác định bằng nhiều con đường khác nhau, thường bằng đường uống hoặc qua da. Hoặc có thể tiêm chất độc vào động vật thí nghiệm để xác định.

Các yếu tố ảnh hưởng đến độc tính của một chất

Như đã trình bày ở trên, có nhiều yếu tố quyết định đến độc tính của một chất như: tính chất lý hóa, liều lượng, cách sử dụng, bản thân người sử dụng là đối tượng nào, tuổi tác. Để tìm kiểu kỹ hơn, các yếu tố ảnh hưởng đến độc tính của một chất có thể chia thành các phần

  • Yếu tố chủ quan:

+ Loài: mỗi loài mó một liều độc riêng, do đó không được suy liều độc từ loài này sang loài khác, đặc biệt không được suy cho người. Liều độc không thể xác định bằng thực nghiệm mà chỉ xác định thông qua ước lượng và điều tra.

+ Tuổi, giới tính, cân nặng: động vật non có thể chịu ảnh hưởng của các chất độc mà cần chuyển hóa qua gan thận, tốt hơn động vật già, nhưng đối với chất độc có ái tính nhạy cảm với thần kinh thì động vật non chịu ảnh hưởng nặng nề hơn.

+ Độ nhạy cảm đối với từng cá thể

+ Trạng thái của cơ thể: no, đói, stress, có thai,..

  • Yếu tố khách quan:

+ đường dùng và cách dùng

+dạng dùng

+ Việc sử dụng đồng thời với các chất khác

+ Sự quen thuốc

+…

Sự ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh đối với quá trình phát triển của vi sinh vật

0

Sinh trưởng và trao đổi chất của vi sinh vật liên quan chặt chẽ đến các điều kiện môi trường bên ngoài. Các điều kiện này bao gồm hàng loạt các yếu tố khác nhau, tác động qua lại lẫn nhau.

Đa số các yếu tố đều có đặc tính tác dụng chung biểu hiện ở 3 nấc: tối thiểu, tối ưu, cực đại. Khi một yếu tố ở trong vùng tối ưu thì vi sinh vật sẽ được phát triển và sinh trưởng một cách tốt nhất,với tốc độ phát triển tốt nhất. Nếu yếu tố này có tác dụng cực đại hoặc cực tiểu, vi sinh vật ngừng phát triển hoặc chết.

Các yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến đời sống của vi sinh vật là vật lý, hóa học, sinh học, trong đó yếu tố vật lý là đáng chú ý nhất. Yếu tố vật lý bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng

  1. Nhiệt độ:

  • Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất đối với đời sống của vi sinh vật. Mỗi loài, mỗi chủng vi sinh vật có một giới hạn nhiệt độ phát triển thích hợp. Nói chung đối với vi sinh vật, nhiệt độ phát triển 15-45◦C
  • Nhiệt độ cao sẽ làm thay đổi quá trình trao đổi chất của vi sinh vật, vi sinh vật sẽ bị chết. Cụ thể nhiệt độ cao sẽ làm biến tính protein của vi sinh vật, biến tính enzym, thay đổi quá trình sinh lý sinh hóa bên trong tế bào vi sinh vật và làm chúng chậm phát triển hoặc chết. Các tế bào sinh dưỡng thường bị chết ở nhiệt độ trên 60◦C trong 20-30 phút.
  • Các bào tử bị tiêu diệt ở nhiệt độ 120◦C trong 30-40 phút. Tính chất này được ứng dụng trong – việc tiệt trùng. Nhiệt độ thấp chỉ có tác dụng kìm hãm sự phát triển của vi sinh vật

 

  1. Độ ẩm

  • Hầu hết các quá trình sống của vi sinh vật đều liên quan đến nước. Khi thiếu nước xảy ra quá trình loại nước ra khỏi tế bào vi sinh vật, trao đổi chất bị giảm và tế bào chết. Vì vậy trong bảo quản thuốc, dược liệu, thực phẩm tránh khỏi tác động của vi sinh vật cần có giới hạn độ ẩm nhất định. Để làm giảm hàm ẩm của thực phẩm, dược liệu hoặc một số thuốc khác, sấy là biện pháp làm khô tốt để bảo quản.
  1. Ánh sáng

Ánh sáng mặt trời gồm các tia bức xạ như tia tử ngoại, hồng ngoại, tia gamma có tác dụng phá hủy tế bào vi sinh vật, đặc biệt là tia tử ngoại. Bức xạ tử ngoại có bước sóng khoảng 260nm có tác dụng diệt khuẩn mạnh nhất. Dưới tác động của tia UV vi sinh vật chết tùy liều lượng.

Để ngăn ngừa tác hại của vi sinh vật đối với thuốc, các tác nhân vật lý trên cần được vận dụng vào trong quá trình thực hành sản xuất thuốc, bảo quản thuốc cho tốt, nhằm hạn chế tối đa số lượng vi sinh vật ban đầu gây nhiễm. Đồng thời tùy vào chế phẩm mà đưa ra chỉ tiêu giới hạn nhiễm khuẩn. Ví dụ như chế phẩm thuốc tiêm phải vô trùng, thuốc nhỏ mắt vô trùng, còn một số chế phẩm khác đạt giới hạn nhiễm khuẩn cho phép

Copy ghi nguồn ThuocBietDuoc.edu.vn

Link bài viết: Sự ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh đối với quá trình phát triển của vi sinh vật

Miễn dịch tự nhiên

0
  1. Khái niệm

Miễn dịch tự nhiên là khả năng tự bảo vệ sẵn có, mang tính di truyền trong các các thể cùng loài. Khả năng này có ngay từ khi lúc sinh ra và không cần có sự tiếp xúc trước với kháng nguyên lạ của cơ thể.

  1. Vai trò của miễn dịch tự nhiên

Là tuyến phòng thủ đầu tiên ngăn chặn sự xâm nhập và tiêu diệt vi sinh vật trước khi chúng kịp nhân lên trong cơ thể, nhờ đó mà hệ miễn dịch đặc hiệu có đủ thời gian để hình thành, và khi đó sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với kháng nguyên lại, vi sinh vật sẽ được đầy đủ và hoàn thiện hơn, giúp đẩy lùi yếu tố gây bệnh cho cơ thể.

  1. Các hàng rào của đáp ứng miễn dịch tự nhiên

Hàng rào vật lý

  • Da và niêm mạc là nơi ngăn cách môi trường bên trong cơ thể và môi trường bên ngoài. Da bao phủ bề mặt ngoài cơ thể, có cấu tạo gồm một lớp biểu bì chứa các tế bào biểu mô xếp sít nhau tạo hàng rào cơ học ngăn chặn sự xâm nhập của vi sinh vật. Trên mặt lớp biểu bì là lớp tế bào sừng hóa chứa keratin, không thấm nước, các vi sinh vật không phân giải được keratin sẽ không thể theo nước ngấm vào cơ thể.
  • Niêm mạc bao phủ mặt bên trong cơ thể, có ở đường tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu, sinh dục,..nó chỉ có một lớp tế bào phủ một lớp chất nhày không cho vi sinh vật xâm nhập vào. Trên bề mặt niêm mạc đường hô hấp, có các lông mao chuyển động liên tục theo một hướng nhất định để quét các bụi, và đẩy chúng ra ngoài bằng các phản xạ ho, hắt hơi,..bề mặt niêm mạc mắt luôn tiết dịch tạo ra dòng để rửa trôi vi sinh vật.

Hàng rào hóa học

  • Độ acid: trên da làm các vi sinh vật không tồn tại lâu được
  • Dịch vị do dạ dày tiết ra: có pH 1-2 nên đa số vi sinh vật xâm nhập bằng con đường tiêu hóa không sống sót được.
  • Lysozym: dịch tuyến nước mắt, nước mũi, sữa…là một chất có khả năng ức chế sự tổng hợp thành tế bào gram dương.
  • Các protein gắn sắt: là nguyên tố cần thiết cho sự phát triển của vi sinh vật, làm giảm nồng độ sắt của vi sinh vật, gây chết

Hàng rào dịch thể

  • Interferon: là glycoprotein cảm ứng, được sản xuất bởi nhiều loại tế bào, như tế bào bạch cầu, đại thực bào, tế bào biểu mô, tế bào sơ non khi được cảm ứng bởi virus, hoặc acid nucleic. IFN có hoạt tính kháng virus một cách không đặc hiệu như ngăn cản sự nhân lên của virus, hoạt hóa tế bào tiêu diệt tự nhiên, có khả năng chống lại tế bào ung thư do ức chế tế bào trưởng thành.
  • Bổ thể là hệ thống nhiều protein thành phần, được hoạt hóa theo một trình tự nhất định, hoạt động của bổ thể gây tổn thương thành tế bào, sau đó gây tan bào,ly giải tế bào.

Hàng rào tế bào

  • Trên niêm mạc có rất nhiều tế bào có khả năng thực bào,
  • Có hai loại: tiểu thực bào và đại thực bào

Tiểu thực bào: bạch cầu đa nhân trung tính của máu

Đại thực bào là tế bào mono máu

Có 3 giai đoạn thực bào: gắn, nuốt, tiêu.

  • Tế bào diệt tự nhiên NK: tế bào dạng lympho có hạt lớn, có ở máu ngoại vi, có chức năng diệt các tế bào đích, hoạt tính này tăng lên khi được kích thích bởi interferon
  • Tế bào K: tế bào dạng lympho, chức năng gây độc tế bào đích.

Hàng rào vi sinh vật

Hệ vi sinh vật chí trong cơ thể giúp cân bằng môi trường, cạnh tranh thức ăn , vị tri bám và tiết một số chất gây bất lợi cho vi sinh vật xâm nhập

Sốt

Sốt là cơ chế bảo vệ tự nhiên của cơ thể, làm tăng tốc độ phản ứng, tăng hoạt động của interferon từ đó đẩy lùi được vi sinh vật hay yếu tố lạ xâm nhập gây hại.

Viêm không đặc hiệu

Triệu chứng kinh điển: sưng, nóng, đỏ, đau.

sưng, nóng, đỏ, đau trong viêm không đặc hiệu

Tác nhân sát khuẩn

0

Các tác nhân sát trùng được hiểu là các tác nhân làm tiêu diệt tế bào, bào tử, đính bào tử vi sinh vật,..mà không có tính chọn lọc. Hàng loạt các nhân tố vật lý và hóa học được xếp vào nhóm tác nhân này.

Trong đời sống sản xuất, và trong thực tế đều phải cần dùng các tác nhân này để khử trùng: khử trùng các dụng cụ y tế, khử trùng phòng thí nghiệm, các bao bì bao gói của các chế phẩm cần độ vô trùng, đơn giản nhất là sát khuẩn các vết thương nhất là các vết thương ngoài da hở đều cần có biện pháp để sát khuẩn, diệt khuẩn.

  1. Tác nhân vật lý

  • Các tác nhân vật lý bao gồm nhiệt độ cao: nhiệt ẩm hay nhiệt khô. Nhiệt ẩm tiêu diệt vi sinh vật có hiệu quả hơn nhiệt khô vì nhiệt ẩm gây đông vón và biến tính protein, trong khi nhiệt khô làm oxy hóa các thành phân hữu cơ của tế bào. Nhiệt ẩm là tiến hành ở 121◦C trong 15 phút hoặc 30 phút tùy loại vi sinh vật, chế phẩm; dùng nồi hấp tiệt trùng. Còn nhiệt khô có thể được tiến hành 170-180◦c/0,5 giờ hoặc hơn tùy vào loại vi sinh vật.
  • Các tác nhân như tia gamma, tia X, tia UV cũng có khả năng diệt khuẩn mạnh,
  • Tia UV tuy không có khả năng ion hóa nhưng có khả năng đâm xuyên, ứng dụng để khử trùng bề mặt, hay khử trùng dung dịch trong suốt, với các thiết bị đặc dụng. Tia gamma, tia X có khả năng đâm xuyên sâu hơn có khả năng diệt khuẩn sâu bên trong. Tia gamma thường dùng tiệt khuẩn các dụng cụ y tế.
  1. Tác nhân hóa học

Nhiều hóa chất là tác nhân sát trùng tốt, trong số đó có thể liệt kê được đó là

  • Ethanol: ethanol hay cồn 70◦có tác dụng sát khuẩn mạnh nhất, được dùng để sát trùng bên ngoài
  • Phenol và các chất dẫn xuất
  • Halogen và chất chứa clor hoạt động bao gồm: iod và các hợp chất của iod, clor và các hợp chất của clor hoạt động, ví dụ cloramin B,T
  • Các chất chứa oxy hoạt động như hydroperoxid, KmnO4..
  • Các kim loại nặng: hợp chất của thủy ngân có trong dung dịch thuốc đỏ bôi ngoài da dùng ngoài thị trường, các hợp chất hữu cơ của thủy ngân có hoạt tính kháng khuẩn cao nhưng độc tính thấp như mercurocrom, timerosel, nitromersol được dùng để xử lý vết thương ở da, dung dich bạc nitrat 1%, các hợp chất của kẽm như kẽm sulfat.
  • Các chất tẩy rửa, xà phòng
  • Formaldehyd : dung dịch 37-40% dùng để khử trùng dụng cụ, dạng khí dùng để khử trùng không khí. Dung dịch 10% trong cồn để vô trùng phòng thí nghiệm có hiệu quả
  • Dung dịch cồn -iod
  • Dung dịch phức chất pyrolidon-Iod dùng khử trùng có hiệu quả cao trong sát trùng, rửa vết thương ngoài da.

 

Nhiễm trùng do thuốc

0

Thuốc là một chất hoặc hỗn hợp các chất được sử dụng nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý của cơ thể, bao gồm thuốc hóa dược, dược liệu và không bao gồm vắc xin và sinh phẩm y tế.

Trong thành phần của thuốc có dược chất, tá dược, bao bì, mà trong số đó có thể là nguồn dinh dưỡng cho vi sinh vật. Chính vì thế mà loại thuốc này có thể bị lẫy nhiễm và gây ra nhiễm trùng tại các cơ sở y tế, đó gọi là nhiễm trùng do thuốc.

Việc thực hiện GMP là một trong những yêu cầu đặt ra để tiêu chuẩn hóa sản suất, hạn chế tối đa việc lây nhiễm vào các thành phẩm được sản xuất tại các xí nghiệp. Các giai đoạn kiểm định, kiểm tra, kiểm soát chất lượng cần tuân thủ quy định để hạn chế nhiễm trùng do thuốc có thể xảy ra.

  1. Nguy cơ của thuốc bị nhiễm vi sinh vật

  • Thuốc bị nhiễm vi sinh vật có thể gây ra hậu quả là biến đổi các thành phần của thuốc, khi dùng có thể gây nguy cơ có hại cho sức khỏe con người.
  • Có thể nhận biết thuốc bị nhiễm vi sinh vật qua cảm quan, vật lý, hóa lý, phương pháp vi sinh và kiểm tra tác dụng dược lý
  • – Những thuốc bị nhiễm vi sinh vật mà vẫn được sử dụng sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho bệnh nhân, ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng của nhà sản xuất, gây tổn thất kinh tế cho nhà sản xuất.
  1. Các nguồn lây nhiễm

Có nhiều nguồn lây nhiễm cho các sản phẩm của thuốc, có thể phân theo các giai đoạn của quá trình từ sản xuất đến phân phối và sử dụng.

Lây nhiễm trong quá trình sản xuất

  • Có thể bắt đầu từ nguyên liệu, nhất là nguyên liệu không được kiểm nghiệm đầu vào, nguyên liệu không rõ nguồn gốc, nguyên liệu từ động vật, rồi đến nước
  • Các loại máy móc thiết bị cũng hay bị nhiễm khuẩn không được kiểm tra bảo dưỡng, vệ sinh
  • Không khí trong nhà máy sản xuất, trong phòng thí nghiệm, phòng bào chế
  • Vật liệu dùng đóng gói, nếu không đảm bảo vô trùng cũng có thể là nguồn lây nhiễm
  • Nhân tố con người là yếu tố quan trọng nhất.là nguồn lây nhiễm cho cấc chế phẩm qua quần áo, tóc, tay, vì vậy con người cần đươc đào tạo, tuân thủ theo những quy định của sản xuất, mặc bảo hộ lao động trong quá trình làm việc.

Lây nhiễm trong quá trình sử dụng

  • Các dạng bào chế cần dung môi để uống cho bệnh nhân có thể bị nhiễm
  • Các loại thuốc mở và dùng lại nhiều lần có nguy cơ bị nhiễm
  • Có thể trực tiếp như bệnh nhân làm thuốc bị nhiễm sau đó thuốc bị lây nhiễm này lại truyền sang cho bệnh nhân khác hoặc theo các phương thức truyền chéo.

 

Tác hại của nhiễm vi sinh vật

  • Tác hại của nhiễm vi sinh vật đối vơi bệnh nhân tùy thuộc vào vi sinh vật bị nhiễm, hoạt chất của thuốc bị nhiễm vi sinh vật. Vi sinh vật có thể phân ra hai loại chính: mầm bệnh thật sự và mầm bệnh cơ hội. Mầm bệnh thật sự là chúng gây bệnh, gây nghiêm trọng cho bệnh nhân. Còn mầm bệnh cơ hội là khi người bệnh khỏe mạnh, chúng không gây tác hại gì, nhưng đối với những đối tượng đặc biệt như người cao tuổi, người suy giảm miễn dịch thì chúng gây ra những trạng thái bệnh lý nghiêm trọng.
  1. Các biện pháp phòng ngừa và kiểm tra sự lây nhiễm

  • Trong khâu sản xuất: thực hiện nghiêm túc và đầy đủ quy định GMP
  • Trong khâu bảo quản: bảo quản đúng trong điều kiện
  • Khâu phân phối
  • Hướng dẫn sử dụng và sử dụng

Miễn dịch chống vi khuẩn

0

Trong cuộc sống hằng ngày con người luôn phải tiếp xúc với nhiều tác nhân gây bệnh là các vi sinh vật. Để tự bảo vệ cơ thể, chính cơ thể đã có hình thức bảo vệ đó là nhờ hệ thống miễn dịch, đáp ứng miễn dịch: miễn dịch tự nhiên và miễn dich đặc hiệu. Để tồn tại và phát triển, các vi sinh vật cũng đã tạo ra nhiều phương thức để né tránh miễn dịch.

vi khuẩn ngoại bào sống và nhân lên bên ngoài tế bào chủ, gây bệnh bằng cách: ngoại độc tố, nội độc tố và tạo ra các phản ứng viêm dẫn đến hủy hoại tổ chức

đáp ứng miễn dịch của cơ thể đó là trung hòa độc tố và diệt vi khuẩn.

Các cơ chế bảo vệ tự nhiên chống vi khuẩn ngoại bào

  • Thực bào
  • Hoạt hóa bổ thể
  • Giải phóng cytokin: khi hoạt hóa cytokin và các chất gây viêm, các tế bào miễn dịch được hoạt hóa, giúp bạch cầu bám dính và xuyên làm nhiệm vụ thực bào.
  • Cơ chế bảo vệ đặc hiệu: có hai cơ chế bảo vệ đặc hiệu đó là miên dịch dịch thể và miễn dịch tế bào

+ Miễn dịch dịch thể:

Nếu kháng nguyên không phụ thuộc tuyến ức thì trực tiếp kích thích tế bào lympho B hoạt hóa để sản xuất kháng thể đặc hiệu.

Nếu kháng nguyên phụ thuộc tuyến ức thì được đại thực bào bắt giữ, xử lý và trình diện cùng phân tử MHC-II cho tế bào TCD4+ các tế bào này sẽ hoạt hóa và tiết lymphokin giúp tế bào lympho B sản xuất kháng thể đặc hiệu.

+ Vai trò của kháng thể

Trung hòa độc tố làm mất độc tính độc, ngăn cản không cho độc tố bám vào tế bào

Ig A tiết ngăn cản vi khuẩn bám vào niêm mạc ngăn không cho chúng xâm nhập vào cơ thể

Tăng cường thực bào nhờ opsonin hóa: các kháng thể gắn đặc hiệu với kháng nguyên tại phần Fab gắn thụ thể C3b hoặc với thụ thể trên bề mặt đại thực bào. Nhờ opsonin hóa mà vi khuẩn nhanh chóng bị tiêu diệt và đào thải.

  • Sự né tránh của vi khuẩn ngoại bào:

+Thay đổi protein bề mặt có khả năng bám vào bề mặt tế bào để tiếp cận và xâm nhập sâu

+Các vi khuẩn tạo vỏ bọc chống thực bào, ức chế hoạt hóa bổ thể

+Ngoại độc tố gây độc cho tế bào thực bào

+Biến đổi kháng nguyên bề mặt tạo kháng nguyên mới , làm mất hiệu lực của miễn dịch đã có

  1. Miễn dịch chống vi khuẩn nội bào

Vi khuẩn nội bào sống và nhân lên ngay trong cơ thể vật chủ. Các kháng thể dịch thể không tiếp xúc được với vi khuẩn nội bào vì vậy cơ chế chống miễn dịch, cơ chế miễn dịch khác với cơ chế miễn dịch đối với vi khuân ngoại bào

  • Cư chế bảo vệ tự nhiên

Thưc bào là hình thức bảo vệ tự nhiên chủ yếu

  • Cơ chế bảo vệ đặc hiệu

Thông qua trung gian tế bào là hình thức bảo vệ chính. Đại thực bào bắt, nuốt, nhưng vẫn trình diện kháng nguyên cho tê bào lympho TCD4. Các tế bào này sẽ tăng cường sản xuất lympho kích thích đại thực bào tiêu diệt vi khuẩn

Nhiễm vi khuẩn nội bào cần chú ý đến tính đề kháng của nó

 

  • Sự né tránh miến dịch của vi khuẩn

Ức chế hòa nhập phagosom và lysosom

Kháng lại các enzym tiêu trong phalysosom

Đục thủng màng phagosom thoát vào màng bào tương trước khi có sự hòa nhập.

Thành phần tế bào và dinh dưỡng của vi sinh vật

0

Nhu cầu dinh dưỡng của vi sinh vật nhằm đáp ứng các đòi hỏi của tế bào do đó phụ thuộc vào thành phần hóa học của các tế bào của chúng. Trong tế bào vi sinh vật được phân thành hai nhóm lớn. Đó là nước và các muối khoáng, nhóm kia là nhóm các chất hữu cơ bao gồm acid nucleic, protein, hydratcarbon, lipid và các phân tử chất hữu cơ nhỏ.

Về tổng thể nước chiếm tỷ lệ cao nhất trong số tất cả các thành phần, và trong số các chất hữu cơ thì protein chiếm tỷ lệ cao nhất.

Xét về nguyên tố hóa học cấu tạo nên tế bào thì, tế bào vi sinh vật bao gồm các nguyên tố sinh học C,H,O,N và các nguyên tố khoáng đa lượng và nguyên tố vi lượng. Chỉ riêng nguyên tố C,H,O,N,P,S,K,N,Na đã chiếm tới 98% khối lượng sinh khối khô của cả tế bào. Điều này sẽ quyết định đến dinh dưỡng của vi sinh vật để sinh trưởng và phát triển.

  1. Nước và muối khoáng

Nước chiếm đến 70-90% khối lượng tế bào vi sinh vật. Các phản ứng sinh hóa xảy ra trong tế bào vi sinh vật đều diễn ra trong dung dịch nước. Ở vi khuẩn, hàm lượng nước thường là 70-80%, còn nấm sợi thường là 85-90%

Phần nước tham gia các vai trò :

  • Nước tự do tham gia vào quá trình trao đổi chất của vi sinh vật, đa phần nước trong tế bào tồn tại là nước tư do
  • Nước kết hợp là phần nước liên kết với các phân tử chất hữu cơ cao phân tử trong tế bào, nước liên kết mất khả năng hòa tan và lưu động.
  • Lấy mất nước hoặc sấy khô thực phẩm là phương pháp ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật, bảo quản thực phẩm, dược liệu,..được lâu hơn. Mặt khác ướp muối hoặc tẩm đường nhằm tạo ra sự khô cạn sinh lý không thích họp cho sự phát triển của vi sinh vật để bảo quản thực phẩm hay được sử dụng.
  • Muối khoáng chiếm khoảng 2-5% khối lượng khô của tế bào. Trong tế bào chúng tồn tại dưới dạng ion như Mg2+, Ca2+,..hay dạng anion như HPO42-, SO42-, ..các ion trong tế bào luôn ở tỷ lệ nhất định.

 

  1. Các chất hữu cơ

  • Trong tế bào vi khuẩn các polymer-đại phân tử chiếm tới 96% chất khô, 3.5% là các chất đơn phân tử, còn lại là các ion vô cơ.
  • Các polymer chủ yếu trong tế bào là các protein, acid nucleic, lipoid, hydratcarbon. Các chất vô cơ trong tế bào vi sinh vật được tạo nên chủ yếu bởi các nguyên tố C,H,O,N,O,S,..trong đó nguyên tố C.H.O,N chiếm tới 93% chất khô của tế bào. Protein có hàm lượng cao nhất. Các acid amin kết hợp lại với nhau trong liên kết peptid để tạo thành các protein.
  • Như vậy các chất hữu cơ trong tế bào vi sinh vật gồm: protein, lipid, hydratcarbon, acid amin và tiền chất, đường và tiền chất, acid nucleic, AND,ARN,..

Phân bố vi sinh vật trong tự nhiên

0

Vi sinh vật được phân bố hết sức rộng rãi trong tự nhiên. Mối quan hệ vi sinh vật trong tự nhiên với các sinh vật khác tạo nên hệ sinh thái đa dạng phong phú. Vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong vòng tuần hoàn vật chất.

Nhiều chủng vi sinh vật có lợi cho con ngươi, đời sống kinh tế, tuy nhiên cũng có nhiều loại có hại cho con người, nguyên nhân gây ra căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.

  1. Vi sinh vật có trong đất, nước

Nước có thể là nơi các vi sinh vật đầu tiên xuất hiện như là vi sinh vật sống nguyên thủy cổ đại đầu tiên. Ngày nay đất và nước là môi trường tự nhiên thích hợp cho các loài vi sinh vật, nên  số lượng và chung loại các vi sinh vật trong môi trường này là hết sức phong phú, trong đất là phong phú nhất. Số lượng và chủng loại vi sinh vật phụ thuộc vào chất lượng nguồn nước. Nước trong khe suối thiên nhiên có ít vi sinh vật, ở biển đại dương cũng có các loài vi sinh vật chịu được muối sinh sôi phát triển. Nước thải có số lượng vi sinh vật nhiều nhất.

 

  1. Vi sinh vật có trong không khí

Không khí không phải là điều kiện, môi trường thuận lợi cho vi sih vật phát triển, nhưng lại là con đường truyền bệnh nguy hiểm gây ra các bệnh đường hô hấp. Trung bình có khoảng 10000 hạt trong 1m3  không khí có 4000-5000 bào tử

Vi sinh vật từ đất, bụi theo gió cuốn, phát tán trong không khí

Vi khuẩn gây bệnh từ hạt nước bọt nhỏ của bệnh nhân khi giao tiếp mà truyền vào không khí rồi lại đưa vào đường hô hấp của người lành để gây bệnh

Chất thải của chim di cư mang mầm bệnh cũng có thể là nguồn lây các bệnh có quy mô khu vực và toàn cầu ngày nay. Ví dụ như cúm gia cầm,…

Vi khuẩn gây bệnh trong không khí thường gặp là lao, bạch hầu, liên cầu, tụ cầu, phế cầu,..

 

  1. Ví sinh vật ở trong cơ thể người

  • Trên bề mặt da, khoang cơ thể, chỗ hốc tự nhiên của cơ thể có nhiều chủng loại vi sinh vật ký sinh. Phần lớn chúng là những vi sinh vật không gây bệnh, nhiều loại có ích. Ví dụ như vi khuẩn kí sinh trong đường tiêu hóa, chúng tham gia vào các quá trình hấp thụ chuyển hóa trong cơ thể. Các vi sinh vật khư trú trên da và trong khoang cơ thể tạo nên một khu hệ sinh thái câ bằng, ổn định bảo vệ cơ thể. Nếu khu hệ sinh thái này bị rối loạn, sẽ gây bệnh. Khu hệ sinh thái ổn định sẽ ngăn chặn sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh và chiếm chỗ trong các bộ phận cơ thể.
  • Trong trường hợp cơ thể yếu, sức đề kháng suy giảm , các vi sinh vật chí có lợi có thể chuyển thành vi sinh vật gây bệnh và khi đó có hại cho cơ thể người.

 

Huyết thanh miễn dịch

0
  1. Nguyên lý

Dùng huyết thanh miễn dịch là đưa vào cơ thể một loại khang thể có nguồn gốc từ người hay động vật, làm cho cơ thể có ngay kháng thể đặc hiệu chống lại tác nhân gây bệnh.

Đây là miễn dịch thụ động nên chóng hết, chỉ tồn tại trong cơ thể vài ngày

 

  1. Nguyên tắc sử dụng

Đối tượng

Huyết thanh được dùng để điều trị và phòng bệnh cho những bệnh nhân đã nhiễm vi sinh vật hay độc tố cấp tính cần phải xử lý ngay. Cần đưa ngay kháng thể trung hòa tác nhân gây bệnh. Huyết thanh chỉ có hiệu lực đối với những bệnh mà cơ chế bảo vệ chủ yếu là nhờ miễn dịch

Ví dụ như huyết thanh chống uốn ván SAT, huyết thanh chống bạch hầu SAD, huyết thanh kháng dại.

Khi dùng huyết thanh thường phối hợp them với kháng sinh hoặc vaccin để có được miên dịch chủ động để bảo vệ cơ thể trong thời gian dài.

Liều lượng

  • Tùy theo từng lứa tuổi và mức độ nghiêm trọng của bệnh, mà sử dụng các mức liều khác nhau. Trung bình 0,1-1ml/kg cân nặng. Một số huyết thanh được tính theo đơn vị như kháng độc tố uốn ván, bạch hầu trung bình là 250 đơn vị/lần

Đường đưa huyết thanh vào trong cơ thể

Đa số huyết thanh có nguồn gốc từ người đã được tinh chế đạt tiêu chuẩn cao có thể tiêm tĩnh mạch, nhưng cũng rất hạn chế

Không được tiêm tĩnh mạch huyết thanh có nguồn gốc từ động vật,.

Để phòng phản ứng

Để đề phòng phản ứng do huyết thanh khi dùng phải chú ý

  • Hỏi bệnh nhân đã dùng huyết thanh bao giờ chưa : Thận trọng khi dùng lần thứ hai trở đi, vì tỷ lệ phản ứng có hại cao hơn lần thứ nhất.
  • Làm phản ứng mẫn cảm: pha loãng huyết thanh 10 lần với nước muối sih lý vô khuẩn, tiêm 0,1 ml vào trong da, đợi 30 phút sau không có hiện tượng quầng đỏ thì có thể tiêm huyết thanh. Nếu quầng đỏ tại nơi tiêm thì không được tiêm, trong trường hợp bắt buộc phải dùng thì phải chia nhỏ liều tiêm để tiêm dần cách nhau 20-30 phút.
  • Trong quá trình truyền phải theo dõi liên tục, chuẩn bị đầy đủ cá điều kiện y tế, để có thể xử lý kịp thời nếu có phản ứng xảy ra.
  1. Các phản ứng phụ khi dùng huyết thanh

Tại chỗ

Nơi tiêm có thể bị đau, nổi đỏ, sau vài ngày hết và không nguy hiểm

Toàn thân

Bệnh nhân có thể bị rét run, khó thở, đau người, đau khớp, có thể nhức đầu và nôn. Nặng nhất là sốc huyết thanh có thể xuất hiện khi tiêm lần thứ nhất 10-14 ngày vì lúc đó cơ thể đã sinh kháng thể chống lại, hoặc xảy ra ngay sau khi tiêm, hoặc sau đó một vài ngày sau khi tiêm huyết thanh lần thứ hai. Triệu chứng thường gặp là khó thở, ngứa, nổi mề đay, đau bụng, bí tiểu.