Điều trị hẹp van hai lá

0
322
điều trị basedow

Nội khoa

thuốc điều trị

– Nguyên nhân hàng đầu của hẹp van hai lá là do thấp tim, vì thế cần điều trị phòng thấp thứ phát, ở bn hẹp hai lá nặng không có triệu chứng cơ năng từ trước. Nếu bệnh nhân không có tr/chứng cơ năng thì chỉ cần điều trị kháng sinh dự phòng viêm nội tâm mạc nhất là khi có kèm theo hở van hai lá hoặc van ĐMC.

          – Bệnh nhân có khó thở khi, gắng sức nhẹ: dùng thuốc lợi tiểu, hạn chế muối ăn, có thể cho thêm  chẹn bêta giao cảm (tác dụng giảm đáp ứng tăng nhịp tim khi gắng sức)  ở liều thấp.

– Bệnh nhân hẹp hai lá mức độ vừa trở lên cần tránh các gắng sức bất thường vì có thể dẫn tới tử vong,. Điều trị chọn  chẹn β giao cảm (tác dụng giảm đáp ứng tăng nhịp tim khi gắng sức) sẽ tăng được khả năng gắng sức.

– Phù phổi cấp có thể xảy đến  đột ngột, ở bn hẹp hai lá nặng không có triệu chứng cơ năng từ trước, nhất là khi mới xuất hiện cơn rung nhĩ nhanh, có thể dẫn tới tử vong, vì thế bệnh nhân cần được tuyên truyền để tới các cơ sở y tế gần nhất ngay khi mới xuất hiện khó thở nhiều, đột ngột.

– Khi có biến chứng rung nhĩ phải  dùng thuốc chống đông ,và khống chế tần số thất bằng các thuốc như  chẹn kênh canxi, chẹn bêta giao cảm(tác dụng giảm đáp ứng tăng nhịp tim khi gắng sức) sẽ tăng được khả năng gắng sức.; amiodarone. Nếu như  tình trạng huyết động không ổn định, sốc điện chuyển nhịp cấp cứu được chỉ định, phối hợp với heparin trong thường hợp  thật cần thiết  .

9.2. Nong van hai lá

– Hiện nay, nong van 2 lá qua da (NVHL) là phương ;pháp  hàng đầu được lựa chọn để điều trị cho các bệnh nhân HHL đặc  biệt là bệnh nhân hẹp hai lá mức độ vừa trở lên trên toàn thế giới và đây là thủ thuật chiếm vị trí thứ 2 (về số lượng cũng như ý nghĩa) trong can thiệp tim mạch.

– Chỉ định NVHL khi:

+  HHL khít (diện tích lỗ van trên, siêu âm < 1,5 cm2) và có triệu chứng cơ năng trên lâm sàng (NYHA ≥ 2);

+ Hình thái van trên siêu âm, tốt cho NVHL, dựa theo thang điểm, của Wilkins: bệnh nhân có tổng số điểm ≤ 8 có kết quả tốt nhất;

+ Không có huyết khối trong, nhĩ trái trên siêu âm , qua thành ngực (hoặc tốt hơn là trên siêu âm qua thực quản);

+ Không có hở hai lá hoặc, hở van động mạch chủ, mức độ vừa-nhiều kèm theo (> 2/4) và chưa ảnh hưởng đến chức năng thất trái.

– Biến chứng ,do nong VHL: Tử vong (< 1%)  thường do biến chứng ép tim cấp hoặc tai biến mạch não; Ép tim cấp do chọc vách liên nhĩ không chính xác gây thủng thành nhĩ hoặc do thủng thất khi NVHL bằng bóng/dụng cụ kim loại (< 1%); HoHL luôn là biến chứng, thường gặp nhất; Tắc mạch đb là tắc mạch não (< 1%); Còn tồn lưu thông liên nhĩ: phần lớn lỗ thông này tự đóng trong vòng, 6 tháng; những trường hợp còn tồn lưu (10%) thì lỗ nhỏ, shunt bé và dung nạp tốt.

Mổ tách van tim kín: là giải pháp  dùng 1 dụng cụ tách van hoặc nong van bằng tay qua đường mở nhĩ, thông qua đường,mở ngực và đã có nong van 2 lá bằng bóng qua da hoặc phẫu thuật tim mở nên ít dùng biện pháp này .

– Thay van 2 lá: bằng van sinh học hoặc van cơ học, trong TH hư biến tổ chức dưới van và calci hóa nặng.

 

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here