LIDOCAIN

0
487
lidocain

LIDOCAIN

lidocain

Lidocain là thuốc tê tại chỗ thuộc trong nhóm amid do cấu trúc amid, có thời gian tác dụng không dài không ngắn mà trung bình. Thuốc tê tại chỗ phong bế cả sự phát sinh ra xung động và dẫn truyền xung động thần kinh bằng cách giảm tính thấm qua và thẩm thấu của màng tế bào thần kinh với ion natri, do đó ổn định màng tránh tác động và ức chế quá trình sự khử cực, dẫn đến làm giảm lan truyền hiệu điện thế hoạt động và tiếp đó là gây blốc dẫn truyền của xung động thần kinh.
Lidocain là thuốc chống loạn nhịp, chẹn kênh Na+, được dùng theo đường tiêm tĩnh mạch không được dùng đường khác để điều trị loạn nhịp tim ở tâm thất. Lidocain làm giảm nguy cơ làm rung tâm thất ở người nghi ngờ có nhồi máu cơ tim.
Chỉ định
Gây tê tại chỗ niêm mạc trước khi khám nghiệm,xét nghiệm và nội soi, đặt thiết bị kỹ thuật, hoặc tiến hành các thủ thuật khác và để làm giảm các triệu chứng đau ở trong nhiều căn bệnh. Gây tê từng lớp và các kỹ thuật gây tê phong bế thần kinh bao gồm gây tê thần kinh ngoại vi, gây tê hạch giao cảm, gây tê ngoài màng cứng, gây tê khoang cùng, và gây tê tủy sống.
Tiêm để điều trị cấp tính ít tác dụng trên bệnh mạn tính các loạn nhịp thất sau nhồi máu cơ tim hoặc trong khi tiến hành các thao tác kỹ thuật về tim như phẫu thuật tim hoặc thông xuyên tim. Lidocain là thuốc chọn lọc để điều trị ngoại tâm thu thất trong nhồi máu cơ tim, điều trị các dạng nhịp nhanh thất và rung tâm thất.
Chống chỉ định
Quá mẫn với thuốc tê có cấu trúc nhóm amid; người bệnh có hội chứng Adams – Stokes hoặc có rối loạn xoang – nhĩ nặng, blốc nhĩ – thất ở tất cả các mức độ, suy cơ tim nặng, hoặc blốc trong thất (khi không có thiết bị tạo nhịp); rối loạn chuyển hóa porphyrin.
Thận trọng
Không dùng chế phẩm lidocain chứa chất bảo quản để gây tê trong tủy sống, gây tê bên ngoài màng cứng, hoặc ở trong khoang cùng.
Dùng hết sức thận trọng cho người bệnh có bệnh gan, suy tim, suy hô hấp nặng nề chưa giải quyết được, giảm thể tích máu hoặc sốc, blốc tim không hoàn toàn hoặc nhịp tim chậm, và rung nhĩ.
Dùng thận trọng ở người mệt ốm nặng hoặc suy nhược, vì dễ bị ngộ độc cả thân thể toàn thân với lidocain.
Tuyết đối không được được tiêm thuốc tê vào những mô bị viêm nhiễm hoặc nhiễm khuẩn và không cho vào niệu đạo bị chấn thương vì trong điều kiện xảy ra như vậy, thuốc sẽ được hấp thu nhanh chóng và độc tính thì toàn thân và gây phản ứng toàn thân thay vì phản ứng tại chỗ.
Xử trí
Ðối với phản ứng toàn thân do thuốc bị hấp thu quá mức gây nhiều tác hại không tốt: Duy trì thông khí, cho 100% oxygen, và thực hiện hô hấp hỗ trợ hoặc chỉ huy, khi cần. Ở một số người bệnh, có thể cần phải đặt ống nội khí quản cho bệnh nhân thở dễ hơn.
Ðối với suy tuần hoàn: Dùng một thuốc co mạch và truyền dịch tĩnh mạch.
Ðối với chứng methemoglobin huyết: Cho xanh methylen (1 – 2 mg/kg thể trọng tiêm tĩnh mạch).
Ðối với co giật: Cho một thuốc chống co giật benzodiazepin; cần nhớ là benzodiazepin tiêm tĩnh mạch có thể gây ức chế hô hấp và tuần hoàn, đặc biệt khi tiêm nhanh.

Tác dụng
Lidocain là thuốc tê tại chỗ thuộc trong nhóm amid do cấu trúc amid, có thời gian tác dụng không dài không ngắn mà trung bình. Thuốc tê tại chỗ phong bế cả sự phát sinh ra xung động và dẫn truyền xung động thần kinh bằng cách giảm tính thấm qua và thẩm thấu của màng tế bào thần kinh với ion natri, do đó ổn định màng tránh tác động và ức chế quá trình sự khử cực, dẫn đến làm giảm lan truyền hiệu điện thế hoạt động và tiếp đó là gây blốc dẫn truyền của xung động thần kinh.
Lidocain là thuốc chống loạn nhịp, chẹn kênh Na+, được dùng theo đường tiêm tĩnh mạch không được dùng đường khác để điều trị loạn nhịp tim ở tâm thất. Lidocain làm giảm nguy cơ làm rung tâm thất ở người nghi ngờ có nhồi máu cơ tim.
Chỉ định
Gây tê tại chỗ niêm mạc trước khi khám nghiệm,xét nghiệm và nội soi, đặt thiết bị kỹ thuật, hoặc tiến hành các thủ thuật khác và để làm giảm các triệu chứng đau ở trong nhiều căn bệnh. Gây tê từng lớp và các kỹ thuật gây tê phong bế thần kinh bao gồm gây tê thần kinh ngoại vi, gây tê hạch giao cảm, gây tê ngoài màng cứng, gây tê khoang cùng, và gây tê tủy sống.
Tiêm để điều trị cấp tính ít tác dụng trên bệnh mạn tính các loạn nhịp thất sau nhồi máu cơ tim hoặc trong khi tiến hành các thao tác kỹ thuật về tim như phẫu thuật tim hoặc thông xuyên tim. Lidocain là thuốc chọn lọc để điều trị ngoại tâm thu thất trong nhồi máu cơ tim, điều trị các dạng nhịp nhanh thất và rung tâm thất.
Chống chỉ định
Quá mẫn với thuốc tê có cấu trúc nhóm amid; người bệnh có hội chứng Adams – Stokes hoặc có rối loạn xoang – nhĩ nặng, blốc nhĩ – thất ở tất cả các mức độ, suy cơ tim nặng, hoặc blốc trong thất (khi không có thiết bị tạo nhịp); rối loạn chuyển hóa porphyrin.
Thận trọng
Không dùng chế phẩm lidocain chứa chất bảo quản để gây tê trong tủy sống, gây tê bên ngoài màng cứng, hoặc ở trong khoang cùng.
Dùng hết sức thận trọng cho người bệnh có bệnh gan, suy tim, suy hô hấp nặng nề chưa giải quyết được, giảm thể tích máu hoặc sốc, blốc tim không hoàn toàn hoặc nhịp tim chậm, và rung nhĩ.
Dùng thận trọng ở người mệt ốm nặng hoặc suy nhược, vì dễ bị ngộ độc cả thân thể toàn thân với lidocain.
Tuyết đối không được được tiêm thuốc tê vào những mô bị viêm nhiễm hoặc nhiễm khuẩn và không cho vào niệu đạo bị chấn thương vì trong điều kiện xảy ra như vậy, thuốc sẽ được hấp thu nhanh chóng và độc tính thì toàn thân và gây phản ứng toàn thân thay vì phản ứng tại chỗ.
Xử trí
Ðối với phản ứng toàn thân do thuốc bị hấp thu quá mức gây nhiều tác hại không tốt: Duy trì thông khí, cho 100% oxygen, và thực hiện hô hấp hỗ trợ hoặc chỉ huy, khi cần. Ở một số người bệnh, có thể cần phải đặt ống nội khí quản cho bệnh nhân thở dễ hơn.
Ðối với suy tuần hoàn: Dùng một thuốc co mạch và truyền dịch tĩnh mạch.
Ðối với chứng methemoglobin huyết: Cho xanh methylen (1 – 2 mg/kg thể trọng tiêm tĩnh mạch).
Ðối với co giật: Cho một thuốc chống co giật benzodiazepin; cần nhớ là benzodiazepin tiêm tĩnh mạch có thể gây ức chế hô hấp và tuần hoàn, đặc biệt khi tiêm nhanh.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here