Nước cất pha tiêm

0
2070
nước pha tiêm

Nước cất pha tiêm

I, Khái niệm

nước pha tiêm

Nước là một dung môi lý tưởng được dùng để pha phần lớn các thuốc tiêm có chứa dược chất khác nhau. Do nước tương hợp rất cao với các mô của cơ thể bởi thế các thuốc tiêm dùng nước làm dung môi vừa dễ sử dụng vừa an toàn hơn so với các loại dung môi khác. Thêm vào đó nước có hằng số điện môi và khả năng tạo liên kết hydro cao nên nước có khả năng hòa tan nhiều loại dược chất. Tuy nhiên nước lại là dung môi gây thủy phân nhiều dược chất tạo ra các sản phẩm phân hủy không có tác dụng điều tri thậm chí độc với cơ thể. Nước dùng để pha thuốc tiêm được ghi trong dược điển Việt nam là nước cất pha tiêm. theo dược điển Việt Nam nước để pha thuốc tiêm là nước vô trùng không có vi khuẩn không có chất gây sốt, được điều chế từ nước uống hoặc nước tinh khiết bằng phương pháp cất với thiết bị thích hợp, chứa trong bình kín có nắp, dùng trong 24h, không có khí hòa tan. Dược điển Mỹ 26 cho phép dùng cả nước cất và nước thẩm thấu ngược làm dung môi để pha thuốc tiêm nhưng không được thêm chất sát khuẩn hay chất bảo quản. Để đánh giá điị tinh khiết hóa học của nước cất có thể dựa vào điện trở của mẫu nước đó. Nước cất tốt không dẫn điện có điện trở trên ba trăm năm mươi nghìn ôm đến một triệu ôm. Vận dụng tính chất này người ta có thể gắn một đồng hồ đo điện trở vào bộ phận hứng nước cất của máy cất nước và được nối với nguồi điện cung caaos nhiện của máy cất. Để xá định giới hạn acid- base của nước cất có thể dùng máy đo pH nhưng khi đo phảo cho thêm dung dịch kali clorid bão hào với tỷ lệ 0,3ml/100ml nước cất để tăng độ dẫn điện. Để kiểm tra chất gây sốt trong nước cất Dược điển Việt Nam cũng như phần lớn các dược điển trên thế giới đều sử dụng phương pháp thử trên thỏ và tiêm với liều 10ml nước cất cho 1kg cân nặng thỏ. Để đảm bảo nước cất không có chất gây sốt tốt nhất là dùng nước mới cất hoặc dùng nước cất được bảo quản liên tục ở 80 độ hoặc 5 độ chứa trong các bình thủy tinh hay thép không gỉ và phải đậy kín để tránh ô nhiễm từ môi trường ngoài. Nước cất thường có chứa một lượng nhất định khí Co2 hòa tạn. Khí CO2 này có thể gây kết tủa một số dược chất. Ví dụ các barbiturat là các acid yếu rất ít tan trong nước nên thường được dùng ở dạng muối natri hòa tan để tan tốt trong nước, sẽ có hiện tượng kết tủa xảy ra trong dung dịch này do dạng muối bị chuyển thành dạng acid tự do rất ít tan trong nước . Trong những trường hợ này nước cất để pha thuốc tiêm không được có CO2 hòa tạn. Nước cất có khí oxy hòa tan gây oxy hóa các dược chất dễ  bị oxy hóa như adrenalin, apomorphin… Vì thế cần dùng nước cất pha tiêm không có oxy hòa tan để pha những thuốc tiêm này. Có thể loại CO2 và oxy hòa tan trong nước cất pha tiêm bằng cách đun sôi nước cần dùng trong khoảng 10 phút ngay trước khi dùng hoặc sục khí N2

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here